This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Lắp ghép có độ dôi


  Lắp ghép có độ dôi là loại lắp ghép mà trong đó kích thước lỗ luôn nhỏ hơn kích thước trục. Độ dôi của mối lắp thể hiện tính chất cho sự cố định tương đối giữa các chi tiết trong mối lắp. Độ dôi càng lớn thì tính cố định trong mối lắp càng bền chặt và ngược lại.
    Vậy Độ dội trong mối lắp là hiệu số giữa kích thước của chi tiết trục và kích thước của chi tiết lỗ.
      Trong các mối lắp ghép, độ dôi được ký hiệu là   N :
                           N =    d – D
    Hay                 N =    - ( D – d )    =   - S
     Cũng như mối ghép có độ hở khi lắp chi tiết trục có kích thước giới hạn lớn nhất với chi tiết lỗ có kích thước giới hạn nhỏ nhất thí được mối ghép có độ dôi lớn nhất   Nmax :
     Vậy : Độ dôi lớn nhất là hiệu số dương giũa kích thước giới hạn lớn nhất của chi tiết trục và kích thước giới hạn nhỏ nhất của chi tiết lỗ hoặc là hiệu đại số giữa sai lệch trên của trục và sai lệch dưới của lỗ.
                         Nmax   =    dmax  - Dmin  =   es – EI
     Và ngược lại khi lắp chi tiết trục có giới hạn nhỏ nhất với chi tiết lỗ có kích thước giới hạn lớn nhất thì mối ghép có độ dôi nhỏ nhất  Nmin .
     Vậy : Độ dôi nhỏ nhất là hiệu số dương giữa kích thước giới hạn nhỏ nhất của trục và kích thước giới hạn lớn nhất của lỗ Hoặc là hiệu địa số giữa sai lệch dưới của trục và sai lệch trên của lỗ.
                         Nmin   = dmin  -  Dmax  =  ei  -  ES
      Từ hai kết quả trên ta có độ dôi trung bình Ntblà trung bình cộng giữa độ dôi lớn nhất và độ dôi nhỏ nhất.
       Biên tập : nkn    
           Nguồn tham khảo:

                - Dung sai và đo lường kỹ thuật  : A.N.ZURAVLEV nxb công nhân kỹ thuật 1987.
  - Dung sai lắp ghép & đo lường kỹ thuật : Hoàng xuân Nguyên nxb giáo dục 1994.

   
   

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Một số thuật ngữ phân biệt mài, đánh bóng.

     
Để hiểu và vận dụng hợp lý các công cụ và dụng cụ mài hoặc đánh bóng thì người thực hiện cũng như người chỉ đạo, giám sát cần lưu ý đến những điểm khác biệt của các quá trình xử lý bề mặt chi tiết bằng các phương pháp khác nhau.Để tránh sự nhầm lẫn trong quá trình này, xin đưa ra một số khái niệm và thuật ngữ:

- "Mài - grinding" và "Đánh bóng-polishing" là một hình thức gia công có liên quan đến việc loại bỏ một lớp kim loại từ bề mặt chi tiết bằng hoạt động cắt bằng dụng cụ mài. Điều này liên quan đến việc sử dụng các hạt mài cứng kết dính với nhau hoặc kết dính với vật mang nó (giấy, vải, sợi ny lông tổng hợp…)

Chất lượng bề mặt chi tiết được tạo ra phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó bao gồm grit size (độ lớn) của hạt mài được sử dụng.
-Thuật ngữ "Mài - grinding" sẽ được sử dụng để mô tả việc loại bỏ các bề mặt nhấp nhô của vật liệu và lớp oxit bề mặt. 
- Thuật ngữ "Đánh bóng-polishing" sẽ được sử dụng để mô tả hoạt động loại bỏ lớp bề mặt để hoàn thiện bề mặt chi tiết.
Cỡ hạt mài mịn hơn thì bề mặt được xử lý sẽ mịn hơn nghĩa là lớp nhấp nhô trung bình số học sẽ thấp hơn.
Các kết quả mài hay đánh bóng cuối cùng phụ thuộc vào việc sử dụng các cấp độ hạt mài khác nhau, và tùy vào loại thiết bị mài hay đánh bóng được sử dụng (vận tốc mài/đánh bóng, độ cứng vững...)
-Thuật ngữ “Chải – Brushing” là quá trình xử lý và sử dụng vật liệu có độ hạt nhỏ hơn so với mài và đánh bóng, khi đó chi tiết được cấu trúc lại bề mặt chứ không bị loại bỏ `


-Thuật ngữ “Đánh bóng – Buffing” được hiểu là quá trình làm cho bề mặt mịn, sáng bóng với sự hỗ trợ của lơ, sáp và vật liệu đánh bóng mềm như bông mà không loại bỏ vật liệu trên bề mặt chi tiết.



Sưu tầm.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Lắp ghép có độ hở.

Lắp ghép có độ hở hay còn gọi là lắp lỏng, trong mối ghép này kích

 thước của lỗ luôn lớn hơn kích thước của trục. Độ hở trong mối

 ghép có thể hiểu là sự tự do dịch chuyển tương đối với nhau giữa

 hai chi tiết trong mối lắp. Độ hở càng lớn thì khả năng dịch chuyển

 tương đối càng nhiều và ngược lại.

Độ hở trong mối ghép là hiệu số giữa kích thước của lỗ và kích 

thước của trục được ký hiệu là S.

                                           S =   D  –  d


Các kích thước thực tế của chi tiết dao động trong giới hạn dung 

sai 
đã cho nên độ hở cũng sẽ dao động trong một phạm vi nhất định.

Nếu khi lắp một chi tiết lỗ có kích thước giới hạn lớn nhất là Dmax 

 với kích thước trục có kích thước giới hạn nhỏ nhất  dmin  thì độ hở lớn nhất  sẽ là : Smax.

Độ hở lớn nhất là hiệu số dương giữa kích thước giới hạn lớn nhất 

của lỗ và kích thước giới hạn nhỏ nhất của trục hoặc là hiệu số đại 

số giữa sai lệch giới hạn trên của lỗ và sai lệch giới hạn dưới của 

trục.

                         Smax   =  Dmax   –  dmin    =    ES  -  ei

Ngược lại nếu khi lắp  chi tiết lỗ có kích thước giới hạn nhỏ nhất

 với chi tiết trục có kích thước giới hạn lớn nhất thì mối ghép có độ 

hở nhỏ nhất =  Smin.

Độ hở nhỏ nhất là hiệu số dương giữa kích thước giới hạn nhỏ nhất 

của lỗ và kích thước giới hạn lớn nhất của trục hoặc là hiệu số đại 

số giữa sai lệch giới hạn dưới của lỗ và sai lệch giới hạn trên của 

trục.

                           Smin  =  Dmin  -  dmax  =  EI  - es

Vậy độ hở trung bình của mối ghép  Stb  là trung bình cộng giữa độ

 hở lớn nhất và độ hở nhỏ nhất. Để đánh giá độ chính xác của mối 

ghép người ta dùng khái niệm dung sai của mối ghép đó chính là 

dung sai độ hở trong mối ghép có độ hở.




Biên tập : nkn
Tài liệu tham khảo :
-       Dung sai & đo lường kỹ thuật : A.N. Zuravlev nxb CN kỹ thuật  1987.
-       Dung sai lắp ghép & đo lường : Hoàng Xuân Nguyên nxb Giáo dục 1994.